m hư.
Cách trị: Tư âm thanh nhiệt, sinh tân nhuận táo.
Đơn thuốc: Sinh tân nhận táo ẩm.
Công thức: Thạch cao (sống) 60g, Đại sinh địa 30g, Mỗi ngày 1 thang,
sắc uống thay trà. Có thể cho thêm Thiên hoa phấn. Thạch hộc để dưỡng vị
âm.
Hiệu quả lâm sàng: XX, nữ, 38 tuổi. Từ nǎm 1961 bắt đầu thấy khát
uống nhiều nước. Thèm ǎn, lượng nước uống ngày càng tǎng, đi tiểu nhiều
lần, nước giải nhiều, lượng kinh nguyệt hàng tháng giảm dần, có uống thuốc
mà không khỏi. Tháng 2-1962 bệnh nhân tới xin điều trị, lúc đó rất khát,
thèm uống, gày gò, chân tay yếu ớt, mất kinh nguyệt, mặt trắng, gò má đỏ,
mạch trầm sác, lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng hơi vàng, đại tiện khô, tiểu tiện
lượng nhiều. Xét nghiệm thấy đường niệu (++). Cho uống bài thuốc "Sinh
tân nhuận táo ẩm", uống thay nước trà làm nhiều lần, cho ǎn dè dặt,
mì, khoai lang, kẹo v.v... Uống trong 1 tháng, bệnh nhân tự cảm thấy đỡ khát,
lượng nước uống giảm từng ngày, trong người thoải mái. Kiểm tra đường
niệu (+). Lại kiên trì uống trong hai tháng, hết khát, ǎn uống, tiểu tiện
phục hồi bình thường, đường niệu (-), thân thể béo tốt, kinh nguyệt trở
lại đều đặn, tay chân khỏe mạnh, có thể tham gia lao động.
Bàn luận: Tiêu khát phần lớn bởi dương minh táo nhiệt mà ra. Chứng
này do bệnh lâu ngày thương tổn đến âm, vị nhiệt bốc lên, dịch âm bị hỏa
đốt, âm huyết hư nên không thểứ làm nhuận da thịt thông huyết hải. Tức là
chất dinh dưỡng không được hấp thụ, sử dụng đường thóat ra theo nước
tiểu nên máu không có gì nuôi sống da thịt gày gò, mất kinh nguyệt. Thạch
cao tính ngọt, hàn trừ được hỏa dương minh, lại giải nhiệt cho da thịt. Màu
trắng của Thạch cao nhập vào phế, chất nặng mà chứa mỡ có tác dụng Kim Sinh
thủy, Sinh địa tử âm thanh nhiệt, sinh tân nhuận táo, tư thượng nguyên để
sinh thủy, phế được thủy làm nhuận nên như đám sương mù lan tỏa làm
nhuận tân dịch toàn thân, lại có thể ích huyết, làm thông huyết hải. Bởi
vậy kinh nguyệt trở lại đều đặn, da thịt cũng đầy đặn.